Vì sao giáo sư Bùi Hiền bị chửi nhiều đến vậy?

Loading...

Công trình cải tiến bảng chữ cái “Tiếng Việt” của ông Bùi Hiền trong mấy ngày nay đang trở thành một đề tài gây tranh cải dữ dội. Đa số các ý kiến từ các nhà ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu, nhân sỹ trí thức, các tầng lớp nhân dân đến các bạn trẻ… đều thể hiện quan điểm phản bác, ném đá thậm chí nhục mạ rất nặng nề.

Tại sao các nhượt điểm của chữ quốc ngữ lại được Bùi Hiền đặt vấn đề vào lúc này và tại sao phản ứng của xã hội lại sâu rộng và mạnh mẻ như vậy?

Thứ nhất các đề xuất của ông Bùi Hiền mặc dù KHÔNG CÓ TÍNH KHẢ THI, nhưng việc đặt vấn đề này nó đụng chạm mọi lĩnh vực, đụng chạm đến mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi từ già tới trẻ. Từ đứa trẻ mới tập nói cho đến ông già sắp chết đều bị ảnh hưởng… những ai nói chữ quốc ngữ đều có thể phải bị chi phối cho nên họ bài tỏ quan điểm ngay.

Thứ hai đa số người Việt đã quen với sự tân bốc ca ngợi vẻ đẹp của chữ quốc ngữ, còn những khuyết điểm và bất cập của nó hầu như không được đề cập đến. Đa số người dân có lẻ không hề biết chữ quốc ngữ được dùng bởi sự cưỡng chế của chính quyền thực dân Pháp chứ không phải do người Việt chủ xướng.

Loading...

Chữ Quốc ngữ đã xuất hiện phôi thai có lẽ từ năm 1.533 khi các giáo sĩ phương tây vào truyền đạo Thiên Chúa ở tỉnh Nam Định. Họ đến Việt Nam và giao tiếp với người Việt vì nhu cầu học hỏi ngôn ngữ Việt lúc này là chữ Hán. Để giao tiếp với người bản xứ họ bắt đầu ghi lại bằng cách phiên âm tiếng Hán dưới dạng chữ La tinh.

Tên gọi chữ quốc ngữ được dùng lần đầu tiên là vào năm 1.867 trên Gia Định báo. Tiền thân của tên gọi này là “chữ Tây quốc ngữ”, có nghĩa là văn tự tiếng Pháp. Về sau từ Tây chỉ nước Pháp bị lược bỏ khỏi tên gọi để chỉ còn là “chữ quốc ngữ” có nghĩa là văn tự tiếng Việt.

Chữ Quốc ngữ trên chặng đường hơn 300 năm vẫn không được công nhận là văn tự chính thức cho tới khi người Pháp xâm lăng, chiếm lấy Nam Kỳ vào cuối thế kỷ 19.

Ngày 22 tháng 2 năm 1869 Phó Đề đốc Marie Gustave Hector Ohier ký nghị định bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ thay thế chữ Hán trong các công văn ở Nam Kỳ.

Ngày 1 Tháng Giêng năm 1.879 lại có lệnh khẳng định các văn kiện chính thức phải dùng chữ Quốc ngữ. Cũng năm đó chính quyền Pháp đưa chữ Quốc ngữ vào ngành giáo dục, bắt đầu ở các thôn xã Nam Kỳ phải dạy lối chữ này.

Để khuyến khích việc truyền bá chữ Quốc ngữ, nhà chức trách thuộc địa Nam Kỳ còn ra nghị định ngày 14 Tháng 6 năm 1.880 giảm hoặc miễn thuế thân và miễn sưu dịch cho thân hào hương lý nếu họ biết viết chữ Quốc ngữ.

Sang thế kỷ 20 thì chính phủ Đông Pháp mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ, giao cho Nha Học chính giảng dạy ở Bắc Kỳ từ năm 1910.

Năm 1915 thì kỳ thi Hương cuối cùng diễn ra ở Bắc Kỳ mặc cho sự chống đối của giới sĩ phu.

Ở Trung Kỳ thì đạo dụ của vua Khải Định ngày 26 tháng 11 âm lịch năm Mậu Ngọ (tức ngày 28 tháng 12 năm 1918) chính thức bãi bỏ khoa cử và năm 1919 là năm cuối mở khoa thi ở Huế.

Chữ quốc ngữ cấu tạo từ 70% chữ Hán, 25% chữ tây phương, 5% thổ ngữ các dân tộc thiểu số vùng tây bắc bộ như Mường-Thái-Dao, thổ ngữ Chăm, thổ ngữ Khơ-me.

Chúng ta hãy đọc bằng các phương ngôn [Quốc ngữ]-[Việt ngữ]-[Mân việt]-[Bắc kinh] xem;

[Việt Nam]-[Việt ngữ (tiếng Quảng Đông )]–[Mân Việt (tiếng Triều Châu -Phúc kiến)]và[tiếng Bắc kinh]

歷史 Lịch sử – Le súa – Lịc sĩa – Li sừa
定義 Định nghĩa – Tiea nghịa – Tình nghìa – Tíng ýa
發明 Phát minh – Hoát meng – Phat ming – Phá mỉng
考古 Khảo cổ – Khào cố – Hảo của – Khảo cùa
過渡 Qúa độ – Qué tô – Ko tù – Quo túa
政治 Chính trị – Chéng tia – Chinh chìa – Chưng chứa
失敗 Thất bại – Sít bai – Sách bài – Sửa bái
農業 Nông nghiệp – Nong nghép – Nùng diệp – Nủng dúe
發展 Phát triễn – Hoát tién – Phat chuyễn – Phá chànn
聯盟 Liên minh – Leng meng – Lỳnn mình – Lẽngg mỉnh
工業 Công nghiệp – Cang nghépp – Cung diệp – Cung dué
中原 Trung nguyên – Tong nguań – Chung duyền – Chung duyển
增加 Tăng gia – Cheng keaa – Chắng ká – Chứng chia
长期 Trường kỳ – Tseang khía – Tsèng khì – Tsảng tsỉa
主要 Chủ yếu – Chụ yèu – Chuỷe dêu – Chùa dáo
厲害 Lợi hại – Lia hai – Lì hồi – Lí hái
東方 Đông phương – Tong hoang – Tung phoong – Tung phang
岭南 Lĩnh nam – lenh nám – Lịn nàm – Lìn nản
古代 Cổ đại – Cồ to – Của tòi – Cùa tái

[Pháp ngữ)] – [Việt Nam]
Acide – A-xít
Balcon – Ban công
Ballot – Ba lô
Béton – Bê tong
Bière – Bia
Bus – Xe buýt
Café – Cà phê
Carotte – Cà rốt
Chemise – Áo sơ mi
Chou-fleur – Súp lơ
Chou-rave – Su hào
Cirque – Xiếc
Compass – Com pa
Coupe – Cúp
Crème – Kem, Cà rem
Complet – Com lê
Essence – Xăng
Moutarde – Mù tạt
Gant – Găng (tay)
Kiosque – Ki ốt
Savon – Xà phòng, xà bong
Tôle – Tôn (lợp nhà)

[Anh ngữ)] – [Việt Nam]
Internet – internet
Rock – nhạc rốc
Shorts – quần soóc, quần soọc
Same – “xêm xêm”, có nghĩa là gần giống
TV – ti vi

Tiếng việt hay còn gọi là chữ quốc ngữ là một tạp chủng ngữ, chính vì sự hổn chủng trong chữ quốc ngữ nên nó bộc lộ rất nhiều lổi như nhà nghiên cứu Bùi Hiền đã đề cập. Đọc cụm từ “lính thủy đánh bộ” hay “trực thăng lên thẳng” của cộng sản các bạn có hiểu gì không? Trong chữ quốc ngữ có rất nhiều từ vay mượn lắp ghép tùy tiện như vậy nên chúng chẳng có nghĩa gì cả.
Tiếng Việt trong sáng, giàu đẹp… đó chỉ là luận điệu tuyên truyền của cộng sản. Qua phân tích chúng ta thấy được chữ quốc ngữ thực chất là một “tạp chủng ngữ” bộc lộ rất nhiều khuyết điểm và bước đầu áp dụng nó vào Việt nam là do ngoại bang áp đặt.

Loading...